Pháp luật Dân sự quy định về thủ tục khởi kiện để đảm bảo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện. Theo đó, các chủ thể khi thực hiện quyền khởi kiện phải đảm bảo các điều kiện do pháp luật quy định bao gồm:
1. Chủ thể thực hiện có quyền khởi kiện và có đủ năng lực hành vi dân sự
Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự bao gồm cá nhân, cơ quan, hoặc tổ chức khác đảm bảo các điều kiện theo pháp luật quy định
Đối với cá nhân: Phải có đủ năng lực hành vi tố tụng và có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; Đối với cá nhân chưa đủ mười tám tuổi, bị mất năng lực hành vi dân sự,v.v.. việc thực hiện quyền khởi kiện do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác như: Trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,.. và đã lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản của mình thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi về tranh chấp có liên quan đến hợp đồng lao động hoặc giao dịch trên.
Đối với cơ quan hoặc tổ chức: Việc khởi kiện của cơ quan, tổ chức phải đảm bảo điều kiện là có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và do người đại diện hợp pháp thực hiện. Để xác định chính xác chủ thể của quyền khởi kiện phải xem xét quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm người đứng đầu hoặc điều lệ của tổ chức đó.
2. Tòa án phải có thẩm quyền giải quyết vụ án
Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Theo pháp luật tố tụng dân sự, thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự của Toà án dựa vào các tiêu chí khác nhau nên bao gồm các loại:
Thẩm quyền theo vụ việc là xác định những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
Thẩm quyền theo lãnh thổ là phân định thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự của Toà án cùng cấp.
Thẩm quyền của Toà án các cấp là phân định những vụ án dân sự thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp nào.
Đối với một số vụ án dân sự, trước khi khởi kiện, các bên tranh chấp phải yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết trước, nếu họ không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó mới thực hiện việc khởi kiện.
3. Vụ án dân sự chưa được Toà án giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật
Trong trường hợp vụ án dân sự đã được Toà án Việt Nam giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì các bên không có quyền khởi kiện lại vụ án đó về cùng một quan hệ tranh chấp, trừ những trường hợp sau đây:
– Bản án, quyết định của Toà án xử bác đơn xin ly hôn;
– Yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại;
– Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều điện và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Vụ án dân sự vẫn còn thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện quy định trong luật chung là Bộ luật dân sự năm 2015 và quy định cụ thể trong các luật chuyên ngành như luật lao động, luật hôn nhân và gia đình, luật nuôi con nuôi,… Nếu hết thời hạn đó thì chủ thể mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, quý khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:
???? ????? ??? ????
???????: https://congkhanhluat.vn/
???????: https://www.facebook.com/congkhanhlawfirm/
?????: lienhe@congkhanhluat.vn
???????: 0898.200.234
???????: 33 Truong Chinh Street, Xuan Phu Ward, Hue City, Thua Thien Hue Province, Vietnam.



